Hòa Thượng Thích Duy Lực

Cần Thơ

1923

Hòa Thượng Thích Duy Lực

Trong dòng chảy hoằng pháp của Thiền tông Việt Nam đương đại, Cố Hòa thượng Thích Duy Lực được tôn kính như một bậc thạc đức tông sư, người có công duyên vô lượng trong việc khôi phục và làm hưng thịnh lại pháp môn Tổ Sư Thiền tối thượng thừa. Bằng tuệ giác vô sư và hành nguyện kiên cố, Ngài đã khai mở tâm thức cho hàng vạn hành giả trong và ngoài nước thông qua việc tham câu thoại đầu, chỉ thẳng tự tánh. Dù hóa duyên ký tất, Ngài đã thu thần thị tịch, song kho tàng ngữ lục chân truyền cùng nguồn năng lượng "Từ Không Hiển Dụng" mà Ngài để lại vẫn mãi là ngọn đăng soi sáng con đường kiến tánh thành Phật cho hàng hậu học.

Thân thế và thời niên thiếu tự học kiên trì

Hòa thượng họ La, húy Dũ, hiệu Duy Lực, tự Giác Khai, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43. Ngài sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ, Việt Nam. Thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị, một gia đình nông gia nề nếp và chất phác.

Lên 7 tuổi, Ngài theo cha về quê tổ tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp trường tiểu học tại quê nhà, do hoàn cảnh đưa đẩy, Ngài phải gác lại việc học để theo cha trở lại Việt Nam mưu sinh vào năm 16 tuổi (1938), trú tại tỉnh Cần Thơ.

Dù hoàn cảnh trần lao, Ngài vẫn thể hiện thiên tư mẫn tiệp và ý chí tự học kiên cường trong những lúc rỗi rảnh:

  • Năm 26 tuổi (1948): Ngài thi đỗ bằng giáo viên Hoa văn, từng cộng tác biên soạn cho tờ báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và dạy học suốt 10 năm tại Campuchia, Cần Thơ, Vĩnh Long.
  • Năm 1958: Ngài đỗ bằng Đông y sĩ cấp 1, dấn thân làm đông y sĩ tại Tế Ngươn Đường (Cà Mau) và Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm (Cần Thơ) để khám bệnh, bốc thuốc miễn phí cho dân nghèo suốt 8 năm liền.
  • Duyên lành với Thiền tông: Tại tủ sách Cư Sĩ Lâm, sau một năm miệt mài đọc 7 quyển trong bộ Kinh Tục Tạng (gồm 150 quyển), Ngài quyết định chuyên tâm nghiên tầm phần Thiền tông và may mắn được Pháp sư Diệu Duyên – bậc cao tăng từng thân cận Thiền sư Lai Quả và Thiền sư Hư Vân – tiếp dẫn tham học Tổ Sư Thiền.

Thời kỳ xuất gia học đạo và bước đường kiến tánh thanh tịnh

Khi cơ duyên thuần thục, vào ngày mùng 08 tháng 02 năm 1973, Ngài chính thức xả ly thế tục, được Hòa thượng Hoằng Tu thế phát cho xuất gia tu học tại Chùa Từ Ân (Quận 11, Chợ Lớn). Đến tháng 05 năm 1974, Ngài sang thọ nhận đại giới Tam Đàn Cụ Túc tại Chùa Cực Lạc, quốc gia Malaysia, chính thức dự phần vào hàng Tăng bảo.

Trở về trụ xứ, Ngài chuyên tâm tham cứu câu thoại đầu: “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?” suốt nhiều năm mật niệm. Một hôm, đang lúc đọc quyển Trung Quán Luận đến câu “Do có nghĩa KHÔNG nên thành tựu tất cả pháp”, Ngài bỗng nhiên đốn ngộ ý chỉ thâm sâu: "TỪ KHÔNG HIỂN DỤNG".

Ngài thông suốt hoàn toàn sự đồng nhất ý chỉ giữa các kinh điển tối thượng thừa:

"KHÔNG sanh nơi đại giác, như biển nổi hòn bọt, vô số nước hữu lậu, đều từ KHÔNG sanh khởi." — Kinh Lăng Nghiêm

"Lấy VÔ TRỤ làm gốc." — Lục Tổ Huệ Năng (Kinh Pháp Bảo Đàn)

"Từ gốc VÔ TRỤ lập tất cả pháp." — Trưởng giả Duy Ma Cật (Kinh Duy-ma-cật)

Từ sự liễu ngộ ấy, Ngài thấu triệt rằng Vô Trụ tức Tánh Không, thể Chơn Như vốn Không mà tự hiển bày diệu dụng. Thể và dụng của chư Phật với chúng sanh vốn chẳng hai chẳng khác, nơi thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, sức dụng của Phật Tánh trong mỗi người vốn chưa từng gián đoạn.

Đạo nghiệp hoằng pháp và hành trạng vạn phương

Thắp sáng ngọn đèn Tổ Sư Thiền tại quê nhà (1977 – 1990)

Ngày mùng 02 tháng 04 năm 1977, vâng lệnh Hòa thượng Bản sư, Ngài chính thức ra hoằng truyền pháp môn Tổ Sư Thiền tại Chùa Từ Ân (TP.HCM). Chỉ trong vài năm, đức độ và giáo pháp của Ngài đã thu hút tứ chúng quy tụ ngày một đông đảo. Đến năm 1983, số lượng Phật tử theo tu học tham thoại đầu đạt hơn 4.000 người, các kỳ thiền thất luôn có trên 300 hành giả đồng bái sám, tu tập.

Ngài không quản gian lao, tùy duyên mở các khóa Thiền thất kiến tánh khắp nơi: từ các tự viện nội thành TP.HCM (Chùa Hưng Phước, Chùa Pháp Thành, Chùa Sùng Đức, Chùa Huệ Quang) cho đến các đạo tràng tỉnh thành xa xôi như Đồng Tháp, Long An, Sóc Trăng, Tây Ninh, Khánh Hòa, Bình Định, và Đại Tòng Lâm (Bà Rịa Vũng Tàu).

Sứ giả Thiền tông trên bản đồ thế giới

Từ những năm 1990, danh đức của Hòa thượng Thích Duy Lực lan tỏa ra quốc tế. Ngài thường xuyên được cung thỉnh xuất ngoại hoằng pháp, khai thị thiền thất cho các thiền đường tại Mỹ, Canada (Chùa Chánh Giác – Toronto), Úc (Chùa Quan Âm – Brisbane), Đài Loan (Tịnh xá Đại Bi) và Hồng Kông, tiếp độ đông đảo học giả Á - Âu quay về chánh đạo.

Các công tác Giáo hội và sự nghiệp trước tác, dịch thuật

Năm 1998, ghi nhận những cống hiến vĩ đại của Ngài, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cung thỉnh Ngài làm Ủy viên, đồng thời thỉnh giảng tại các Khóa Bồi dưỡng Hoằng pháp ngắn hạn cho chư Tăng Ni tại Văn phòng 2 Trung ương và các tỉnh miền Trung.

Bên cạnh việc đăng tòa thuyết pháp, Hòa thượng còn để lại cho hậu thế một kho tàng pháp bảo vô giá gồm hơn 20 loại kinh điển và ngữ lục do chính Ngài trước tác, dịch thuật từ Hán dịch sang Việt dịch, phát hành hàng mấy mươi ngàn quyển:

  • Kinh điển tối thượng: Kinh Lăng-nghiêm, Kinh Lăng-già, Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Viên Giác, Kinh Duy-ma-cật, Triệu Luận.
  • Cẩm nang tham thiền: Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền, Phật Pháp với Thiền Tông, Đại Huệ Ngữ Lục, Tham Thiền Cảnh Ngữ, Thiền Thất Khai Thị Lục, Truyền Tâm Pháp Yếu, Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì của Thiền Tông, Danh Từ Thiền Học.
  • Tác phẩm tư duy thời đại: Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, Tâm linh - Khoa học & Phật pháp, Vũ Trụ Quan Thế kỷ 21, Yếu Chỉ Trung Quán Luận.

Hóa duyên ký tất, an nhiên thâu thần thị tịch

"Bồ Tát dĩ lợi sanh vi bổn hoài."

Hòa thượng Thích Duy Lực sở hữu biện tài vô ngại, cả đời tận tụy với sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, chẳng quản gian lao, không từ khó nhọc. Khi hạnh nguyện độ sanh ở cõi Ta-bà đã viên mãn, Ngài đã an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 02 tháng 12 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 08/01/2000), trụ thế 77 năm.

Hành trạng một đời của Hòa thượng Thích Duy Lực là hiện thân của đóa sen thanh tịnh từ tự tánh tịch diệt hiển bày. Thành kính cảm niệm ân đức hóa độ bao la và công hạnh phục hưng Thiền tông của Ngài. Trước tháp báu trang nghiêm, hàng môn đồ pháp quyến và thiền sinh tứ chúng nguyện đồng lòng y giáo phụng hành, giữ vững nghi tình, miên mật tham câu thoại đầu để tiếp nối ngọn đèn chánh pháp mà Ngài đã truyền trao.

Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng thượng phẩm cao đăng, bất ly câu-đê, thùy từ chứng giám và gia hộ cho thiền môn hưng thịnh, chúng sanh đồng triêm ân phước giải thoát.

Hình ảnh nỗi bật (2)