Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Tiền Giang

1925

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại, Hòa thượng Thích Thiền Tâm được tôn vinh như một bậc thạc đức danh tăng, người đã dành trọn cuộc đời thanh bạch để thắp sáng và phục hưng pháp môn Tịnh độ tại miền Nam. Với di sản kinh sách đồ sộ cùng hành trạng ẩn tu mật niệm, Ngài không chỉ là bậc thầy mô phạm cho hàng học tăng, ni chúng mà còn là tháp báu tinh thần che chở cho muôn vàn thiện nam tín nữ. Dù báo thân của Ngài đã an nhiên thoát hóa từ hơn ba thập niên trước, hương thơm đức hạnh và nguồn năng lượng tỉnh thức của bậc chân tu vẫn lồng lộng giữa đất trời Đại Ninh, tiếp tục dẫn dắt hậu thế quay về bến bờ giải thoát.

Thân thế và thiên tư mẫn tiệp thuở thiếu thời

Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43. Thế danh của Ngài là Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình Nho giáo truyền thống, kính tín Tam Bảo sâu dày. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Hương, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Dung (pháp danh Giác Ân). Ngài là người con thứ 10 trong tổ ấm gồm 13 người anh em.

Sớm bộc lộ thiên tư tài hoa văn nhã và bẩm chất cao khiết từ thuở lên sáu, Ngài đồng thời thấu triệt cả quốc ngữ lẫn Nho học. Là một người con chí hiếu, năm 12 tuổi, chứng kiến mẫu thân đau yếu triền miên, Ngài đã quyết chí ra đi tìm thầy học thuốc với tâm nguyện trị lành bệnh cho mẹ. Chính trong thời gian tạm trú học thuốc tại chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Ngài có duyên lành nghiên tầm Phật điển, từ đó khơi dậy và nuôi dưỡng chí nguyện xuất trần mạnh mẽ.

Lộ trình xuất gia tầm đạo và thọ nhận đại giới

Năm 18 tuổi, sau khi hoàn thành bổn phận hiếu thảo, chăm sóc mẫu thân bình phục hoàn toàn, Ngài khẩn khoản xin phép song đường cho phép xuất gia nhưng chưa được sự đồng thuận. Vì chí hướng giải thoát quá lớn, năm 1944 (lúc 19 tuổi), Ngài âm thầm trốn đi đến tu học tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu (Xoài Hột). Đến năm Ất Dậu (1945), Ngài chính thức được thế phát, trở thành đệ tử của Đại lão Hòa thượng Thành Đạo.

Hành trình tích lũy phước trí và thọ nhận giới pháp của Ngài trải qua các dấu mốc trang nghiêm:

  • Năm 1948: Ngài thọ giới Sa Di, tham học tại Phật học đường Liên Hải và Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang) đến năm 1951 để hoàn thành chương trình Trung đẳng Phật học.
  • Năm 1950: Ngài được đăng đàn thọ nhận Tỳ Kheo giới tại Đại giới đàn Ấn Quang.
  • Năm 1951 - 1954: Ngài tốt nghiệp chương trình Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Nam Việt. Trong thời gian này, nhờ tính tình hòa nhã, điềm đạm và lòng khoan dung, Ngài được cử làm Tri chúng, đồng hành cùng Hòa thượng Bửu Huệ (làm Tri sự) trợ duyên đắc lực cho Hòa thượng Giám đốc Thiện Hòa quản lý đại chúng.

Đạo nghiệp hoằng pháp và giai đoạn ẩn tu giáo dưỡng Tăng Ni

Mười năm tịnh thất và bi nguyện độ sanh (1954 – 1964)

Sau khi tốt nghiệp lớp Cao đẳng vào năm 1954, Ngài xin phép chư Tôn đức lui về nhập thất tịnh tu suốt mười năm tại trụ xứ Cái Bè và Vang Quới. Tuy nhiên, "dục nhập thế nhi độ sanh", trong thời gian này Ngài đã dành tâm huyết biên dịch hàng loạt kinh sách chuyên hướng xiển dương pháp môn Tịnh độ nhằm làm tư lương cho hậu thế, đồng thời giảng dạy cho Ni chúng khắp nơi tìm đến thọ học.

Kiến tạo giáo trình và giáo dục học tăng tại Huệ Nghiêm (1964 – 1967)

Năm 1964, nhận lời cung thỉnh của Hòa thượng Thiện Hòa, Ngài cùng hai vị Hòa thượng Thanh Từ và Hòa thượng Bửu Huệ đứng ra đảm trách việc giáo dục học tăng tại Trường Trung đẳng Chuyên khoa Phật học chùa Huệ Nghiêm (Bình Chánh, Sài Gòn).

Song song đó, Ngài còn phụ trách giảng dạy cho học ni tại Phật học viện Dược Sư và giảng dạy tại Phân khoa Phật học thuộc Viện Đại Học Vạn Hạnh. Giai đoạn này, Ngài tập trung biên soạn các bộ giáo trình kinh điển làm nền tảng cho giáo dục Phật học Trung Cao đương thời.

Phật học Tinh Yếu, Duy Thức học Cương yếu, Tịnh Độ Thập Nghi Luận, Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni...

Kiến thiết Hương Nghiêm Tịnh Viện nơi chốn tổ Đại Ninh

Năm 1967, nhận thấy duyên lành với vùng đất cao nguyên, Ngài đến Đại Ninh (ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) kiến thiết Hương Quang Thất. Đến năm 1968, Ngài chính thức về trụ hẳn tại đây, lập nên đạo tràng Tịnh độ rộng lớn.

Năm 1970, Ngài xây dựng Hương Nghiêm Tịnh Viện, biến nơi này thành một trung tâm chuyên tu và xiển dương pháp môn Tịnh độ lớn bậc nhất miền Nam thời bấy giờ. Tăng Ni, tín đồ từ khắp nơi quy tụ về lập am thất tu học vô cùng đông đúc. Tại chốn lâm tuyền thanh tịnh này, Hòa thượng đã sáng tác nhiều áng thơ văn đượm chất đạo vị, thanh thoát, cảm hóa không biết bao nhiêu tâm hồn quay về nẻo giác.

"Từ năm 1975, Ngài viễn ly mọi sự nghe thấy bên ngoài, lặng lẽ nhiếp tâm tu niệm, gia trì hai pháp môn Mật Tịnh song hành, chăm chắm giải quyết việc lớn sanh tử."

Thuận thế vô thường, an nhiên vãng sanh Cực Lạc

Những ngày cuối đời, huyễn thân tứ đại vương chút bệnh duyên, Hòa thượng đã thanh thản bàn giao mọi công việc điều hành Tịnh viện Hương Nghiêm lại cho Tăng đồ quản lý. Ngài khắc phục thân bệnh, nỗ lực dụng công trì danh hiệu Phật không một phút lơ là.

Đến khi cảm nhận thời khắc ta-bà quả mãn, Ngài bảo đồ chúng vây quanh trợ niệm. Vào lúc 9 giờ sáng ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân (nhằm ngày 14/12/1992), Hòa thượng an nhiên thoát hóa, vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, hưởng thọ 68 tuổi, lạp lạp 42 mùa an cư kiết hạ.

Để ghi nhận công đức cao dày của một bậc chân tu, lúc sanh thời, các vị tôn túc đã cung thỉnh Ngài vào Hội đồng Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng.

Kho tàng tác phẩm dịch thuật và soạn thuật để lại cho hậu thế

Sự nghiệp biên soạn và phiên dịch của Hòa thượng Thích Thiền Tâm là một tài sản vô giá, làm kim chỉ nam tu trì cho hàng hậu học:

  • Kinh điển phiên dịch: Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh độ Thập nghi luận, Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni.
  • Sách soạn thuật & hướng dẫn tu học: Tịnh Học Tân Lương, Lá thơ Tịnh Độ, Hương Quê Cực Lạc, Phật học Tinh yếu, Duy Thức Học cương yếu, Niệm Phật Thập yếu, Tây phương Nhựt khóa, Tịnh Độ Pháp Nghi, Mấy điệu sen thanh, Tam Bảo Cảm ứng lục.

Hành trạng một đời của Cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm là đóa sen thanh tịnh nở rực giữa ngàn mây Đại Ninh, minh chứng sống động cho sự thành tựu của pháp môn Mật Tịnh song hành. Thành kính cảm niệm công đức cao dày và giới đức tinh nghiêm của Ngài đối với ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Trước di ảnh trang nghiêm của Ngài, hàng môn đồ pháp quyến và Phật tử xa gần nguyện một lòng tiếp nối chí nguyện, lấy các tác phẩm của Ngài làm tư lương, tinh tấn niệm Phật để ngày sau đồng hội ngộ nơi liên trì hải hội.

Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng thượng phẩm thượng sanh, thùy từ chứng giám, gia hộ cho đạo pháp trường tồn, chúng sanh đồng triêm ân phước an lạc.

Hình ảnh nỗi bật (2)